Trở lại chủ đề Danh xưng Mục sư
Submitted by Nguyenngoc on Sun, 10/12/2008 - 13:20
Cám ơn (tinlanhvietnam.net)! – Nguyenngoc chào thăm hết thảy anh em!
Sau trở ngại kỹ thuật. Tôi đã đăng nhập được và trở thành thành viên của (tinlanhvietnam.net)
Tôi là người mới được sanh ra trong Chúa được ít năm.Từ một kẻ tội lỗi chẳng ra gì.Nay được về làm con của Đấng Yêu Thương – Tôi vô cùng cám ơn Ân Điển của Chúa Giê-xu !
_ Đến với (tinlanhvietnam.net) . Mục đích của tôi là: Được học hỏi Lời Chúa, được lớn lên trong Chúa và để trở thành người phục vụ cho Chúa Giê-xu yêu dấu sau này.
Phương châm: „ Không biết ! thì hỏi – Không giỏi! thì học“
„Học lấy điều hay - Học tránh điều ác „ – (tất nhiên là mọi điều trong KT )
_ Học để thêm kiến thức . Trước là có ích cho mình , sau chăm lợi cho kẻ khác.
_ Hiểu biết không dùng để lý luận, cãi lẽ nhưng để tu dưỡng cho bản thân. Tôi chưa biết Lời Chúa nhiều, có rất nhiều điều không hiểu nên xin được vào diễn đàn học hỏi Lời Chúa với các anh em. Nguyện Chúa Ban Phước trên chúng ta. Amen!
--------------------------------------------
Gần đây tôi mới được biết đến trang (tinlanhvietnam.net) . Tôi được đọc và nghe một số bài giảng của anh Timhuynh (tôi rất thích vì có nhiều điều được Mở ra và tôi nhận được )
.Đoán biết anh Timhuynh là người chăn bầy nhưng tôi không biết phải xưng hô ra làm sao
- vì chỉ thấy ghi là: Người giảng:Huỳnh Christian Timothy
Nhưng sau khi đọc bài: Gơi ý đổi Danh xưng “Muc sư” trong trang Web tinlanhbiengiao thì đó là câu trả lời cho tôi. Vậy nên tôi cũng muốn trở lại chủ đề này một chút nhé!(mặc dù cũng đã hơi lâu rồi nhưng điều quan trong là Thực hiện mà thôi).
-Kính chào anh Timhuynh và các anh em ! ( trong diễn đàn cho phép tôi xưng hô như vậy cho tiện)
Thưa anh ! Đọc bài : Gợi ý đổi Danh xưng “Muc sư” -Tôi rất đồng ý và tán thành với những lý lẽ hợp tình hợp lý, những bằng chứng rõ ràng như vậy .Tôi nghĩ không còn lý do gì để bàn cãi nữa. Nhưng tôi cần phải nói cho đúng là: -Tôi “Amen” vì đó là sự mặc khải,bày tỏ của Chúa trên anh để nói ra ý chân thực theo ý muốn tốt lành của Ngài hầu cho hết thảy chúng ta không vấp phạm trước Lời của Chúa. (nói vậy không phải tôi đặt tôi ngang hàng với các tôi tớ Chúa, những người Chăn bầy. Nhưng sự vấp phạm đó cho người gọivà người được gọi đều như nhau).
Tuy là kẻ mới được sanh ra trong Chúa . Song xin được đóng góp vài ý kiến như sau:
*Danh xưng
Có mấy người nói là: Danh xưng không quan trong miễn là…” hoặc” Danh xưng thật sự không quan trọng ; hoặc „ Gọi Mục sư hay gọi gì nữa chẳng quan trọng…“
hoặc „ Đối với nhiều người đó chỉ là một danh xưng không quan trọng bằng tinh thần phục vụ của người đó chẳng qua chỉ là vấn đề chử nghĩa … – Tôi hiểu những người đó muốn nói gì? Nhưng vấn đề chúng ta thảo luận là Lời Chúa – là liên quan đến phần Tâm Linh nên không thể tùy tiện được . Danh của ai ? Danh nào ?mới là quan trọng. ( có một bài hát như sau ):
„ Nào có Danh xưng hơn Danh Chúa ta – Danh Giê-xu
Nào có Danh xưng hơn Danh Chúa ta – chỉ Ngài thôi
Nào có Danh xưng hơn Danh Chúa ! – Danh Giê-xu
Chúa đáng Chúc tụng, Ngợi ca – Chúa đáng Tôn thờ, Tụng tán
Chúa đáng Hiển vinh , Quyền năng – Tôn Vinh Chúa ! „ ( hosanna.150 )
( Sách công vụ 3:12 ) -Chẳng có sự cứu rỗi trong Đấng nào khác ; vì ở dưới vòm trời , chẳng có Danh nào ban cho loài người , để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu.
Xin hỏi : Danh này có quan trọng không ? Hiện nay bạn đang cầu nguyện trong Danh nào vậy ?
Xin thưa: ngoài Danh Giê-xu ra thì không có một danh nào của loài người là quan trọng. Cũng có một vài người khiêm nhường thực sự còn phần lớn thì sự khiêm nhường của họ chưa đến mức có thể xem thường danh lợi hay địa vị, quyền lực của mình.( Lòng người ta là dối trá hơn mọi vật, và rất là xấu xa: ai có thể biết được ? Giê-Rê-Mi 17:9 )
Ví dụ: Tôi viết thư cho bạn nói rằng sẽ gửi cho bạn 100$. Bạn chưa chắc đã tin vì không biết tôi là ai, nhưng nếu vị tổng thống Bush tuyên bố trên Đài truyền hình là sẽ chuyển vào tài khoản của bạn1triệu$ thì bạn có thể sẽ tin vì trong mỗi một danh đều đi liền với địa vị, quyền lực và sự tín dụng của người đó
Chính vì thế khi Giê-xu Yêu Thương - Đấng Tối Cao Cực Đại, Đấng Thành Tín Chân Thật Ngài nói gì tôi cũng tin Ngài. Ngài hứa tha tội cho tôi , Ngài nhận tôi làm con và sẽ cho tôi là kẻ đồng kế tự với Ngài nữa. Tôi hoàn toàn tin điều đó vì Ngài là Chúa của tôi. ( có thể quý vị sẽ cho là tôi dài dòng bắt bẻ chữ nghĩa coi chừng lạc đề cũng nên nhưng vì có nhiều người cũng lý luận, hình như là không muốn thay đổi cái danh mà mình đã từng được gọi bấy lâu hoặc cũng có thể cho mình hoặc cho người khác nên tôi tuy ít học, chữ nghĩa chẳng rành cũng xin rườm rà một chút vậy- thông cảm cho )
“ Mục sư“
– như anh Timhuynh đã giải thích: Mục sư là Thầy của kẻ chăn. Vậy có phải :
Giê-xu = Đấng chăn giữ tôi (Thi:23)=Người Chăn hiền lành (Giăng:10)=Thầy kẻ chăn (Mục sư) không?
Nếu quả thực như thế thì hết thảy chúng ta dù có là ai đi chăng nữa cũng đều là chiên của đồng cỏ Ngài mà thôi.- Ngài là Người Chăn hiền lành của linh hồn chúng ta
- Ngài là Mục sư của chúng ta.
Danh xưng “ Mục sư“ thuộc về Ngài, của Ngài và là chính Ngài. Không ai có thể nhận lấy Danh xưng này.
- Chỉ có một Giê-xu là Chúa của cả trời và đất.
- Chỉ có một Mục sư - quyết không có người nào khác.
Vâng! Giê-xu là Mục sư của tôi, Danh xưng này tôi cần phải gọi, phải xưng Ngài suốt cả cuộc đời tôi.
Kính thưa quý vị tôi tớ Chúa, những người đã được Chúa chọn và lập là những người chăn bầy của Ngài! Khởi đầu từ Chúa Giê-xu, trải qua công vụ các sứ đồ, các giáo sĩ rồi đến các quý vị gần 1 thế kỷ qua Tin Lành của Chúa đã vào Việt nam. Có rất nhiều vị đã hiến dâng mình phục vụ Chúa , truyền bá phúc âm của Ngài đưa biết bao linh hồn về cho Chúa mở rộng vương quốc Ngài. Đó là ơn phước của Chúa đã ban cho quý vị - Nguyện Chúa gia thêm ơn càng thêm ơn trên các qúy vị.
Nay Nguyenngoc tuy mới chập chững bước vào gia đình Chúa . Thật như con trẻ không dám thốt lời ngông cuồng. Cũng bởi vì Lời Chúa chưa được bao nhiêu càng không dám dùng cái chiêu gọi là:
“ múa rìu qua mắt thợ “ nhưng xét qua Lời Chúa thấy bài viết của anh Timhuynh quả thực thuận theo ý muốn của Chúa nên Nguyenngoc tôi “ cả gan “ mạo muội kính khuyên quý vị hãy xem xét lại
“ Chớ khinh dể mấy lời tiên tri , Chớ xem thường những sự mặc khải “ Đức Chúa Trời là Đấng công minh , Chánh trực -Đấng Toàn tri Thánh khiết ,sự Khôn ngoan có trong Ngài và Ngài cũng luôn ban cho con cái của Ngài những điều tốt lành ( chỉ có con người là hạn hẹp có nhiều điều còn chưa hiểu đúng nên làm sai mà thôi). Chính vì thế Ngài không muốn con cái của Ngài lầm lạc kéo dài mãi cho nên Ngài dùng mọi cách để bày tỏ lẽ mầu nhiệm , chân thật trong ý muốn của Ngài cho chúng ta. Thời và kỳ đã đến không những Ngài chỉ mặc khải cho anh em chúng ta là Timhuynh viết bài này mà cho dù nếu Ngài dùng một đứa bé ngoài đường nói với chúng ta thì chúng ta vẫ cứ phải nghe theo.
Chữ nghĩa có thể thay đổi theo thời gian nhưng “ Trời, đất có qua đi nhưng Lời Chúa một chấm, một nét khong hề thay đổi “- Ý muốn của Ngài từ lúc ban đầu cho đến bây giờ mãi về sau cũng không thay đổi bởi vì Ngài vốn là Đấng không hề thay đổi . Có người nói rằng: “ 90 năm lâu quá rồi khó mà thay đổi được“ (vậy còn gì khó thay đổi nũa không bạn?) Xin thưa: 90 năm hay 900 năm hoặc lâu hơn nữa thì vẫn phải thay đổi !
Đức Chúa Giê-xu -Chrit hôm qua, ngày nay, và cho đến đời đời không hề thay đổi .
những ai hôm qua không đổi, ngày nay không muốn đổi thì chốn đời đời thật không thể đổi được .
*Một ví dụ về sự thay đổi
Cũng như phong tục của nhiều người Việt nam trước đây. Bố mẹ tôi chọn 4 con “ Long, Lân, Quy, Phụng “ để đặt tên cho con cái trong gia đình. Tên của tôi trước đây là:
Nguyễn ngọc Long (con Rồng Ngọc nhà họ Nguyễn). Tôi sinh năm 1964 (Giáp Thìn) theo sách tử vi,tướng số thì:
-Thìn cũng là Rồng,
- Giáp là một trong (Tứ Quý) - thật tên đã “ hay “ mà lại “ Quý “ nữa
Nhiều người nói: - Thằng này trắng trẻo, thông minh, ngoan như vậy sau này chắc “ Khá “ đây – và tôi cũng đã từng tự hào về cái “ Danh xưng “ như vậy. Nhưng tôi đâu có biết rằng từ lúc mới sanh ra cho tới lúc tôi gần 40 tuổi , tôi đã bị bán mình cho “ma quỷ là kẻ nói dối và là cha đẻ của sự lừa dối “.
Chỉ từ lúc tiếp nhận Chúa Giê-xu làm cứu Chúa của mình “ Lẽ Thật “ mới chỉ cho tôi biết ý nghĩa thật của “ Danh xưng “đó. Tôi giật mình kinh hãi –Xin Chúa tha tội và tôi đã đổi tên của tôi là:
Nguyễn Ngọc. Tôi biết có nhiều người tên là Long và nhiều người cũng đã đổi thành tên khác như:
Phạm Đức Long thành Phạm Đức Đạo , ( anh bạn trong nhóm của tôi thì đổi là )
Huỳnh Thăng Long thành Huỳnh Tâm Linh
Xin được so sánh như sau:
1- Tên của Tôi là: LONG = (Thìn) = RỒNG = MA Quỷ (là Không đúng )
2-Trong HT (gọi ai đó) là: Mục sư = (Thầy chăn bầy ) =(Đấng Chăn chiên) = Chúa Giê-xu
( là hoàn toàn không đúng )
Đối với phần (1) tên của bạn - Tôi viết (là Không đúng ) nghĩa là bạn có thể thay đổi hay không tùy theo quan niệm của bạn nhưng còn về phần (2) Danh xưng trong HT – Tôi nhấn mạnh (là hoàn toàn Không đúng) nghĩa là (Cấm) vì đó là Lời trong Kinh Thánh là liên quan tới Chúa Giê-xu.
- " Nhưng các ngươi đừng chịu người ta gọi mình bằng thầy, vì các ngươi chỉ có một Thầy và các ngươi hết thảy đều là anh em." (Mathiơ 23:8 )
Kính thưa các quý vị đã từng được gọi là “ Mục sư“ – các vị cũng đã chẳng từng day dỗ chúng tôi về sự “khiêm nhường“,” hạ mình“… hay sao? Đức Chúa Trời cha của chúng ta là Đấng có một và thật , Đấng cao trọng vô cùng không ai có thể so sánh với Ngài được. Con người là vật thọ tạo của Ngài dẫu chúng ta được tạo ra theo hình của Ngài giống tượng của Ngài và có khả năng sáng tạo ”như“ Ngài nhưng vĩnh viễn không bao giờ bằng Ngài và là Ngài được. “Chúa làm người kém Đức Chúa Trời một chút “ Thi thiên 8:5 chỉ có duy nhất một kẻ dám tự xưng mình bằng = Đức Chúa Trời thì số phận của nó đã bị định đoạt rồi ( chắc quý vị hiểu rõ hơn tôi ). Chúng ta hãy học theo gương Chúa Giê-xu:
- “ Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Đức Chúa Trời là nên nắm giữ; chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi-tớ và trở nên giống như loài người “… ( philip2:6)
- “ Ngài phải dấy lên , ta phải hạ xuống. “ Giăng3:30
Tóm lại: Việc thay đổi cách dịch Danh xưng “Mục sư“ trong Kinh Thánh là phải lắm ! phải lắm!
( theo anh TimHuynh ) Trong lĩnh vực giáo dục: chữ “ sư “ có nghĩa là thầy , do vậy :
“ thầy“ có thể sanh ra “ thầy“ ( chúng ta học nơi thầy giáo, sau này làm thầy gíáo )
“ giáo sư có thể sanh ra giáo sư“ (chúng ta học nơi giáo sư, sau này làm giáo sư )
( về xác thịt ): tôi có cha – tôi được làm cha – sau này con của tôi cũng được làm cha. NHƯNG!
Mục sư là Thầy kẻ chăn thì không thể có một Mục sư nào khác nữa .
Kính xin các quý vị hãy đi tiên phong trong vấn đề này để từ hôm nay cho đến ngày Chúa Giê-xu của
chúng ta trở lại hết thảy con dân Chúa từ trên xuống dưới CHIÊN MỘT BẦY của MỤC SƯ GIÊ-XU không còn lầm lỡ vấp phạm với Ngài nữa.
Nguyền xin ân-điển của Đức Chúa Giê-xu Chrit ở cùng chúng ta hết thảy !
Nguyenngoc ( thành viên mới )
»
- Login to post comments
- 3432 reads


Nói Thêm
Để rộng đường thảo luận, chúng tôi cho đăng vào đây phần Phụ Lục trong bài "Công Tác Phiên Dịch và Giảng Giải Thánh Kinh:"
Phụ lục:
Công tác chăn bầy bị dịch sai trong hầu hết các bản dịch Thánh Kinh Việt ngữ thành "mục sư." "Mục sư" có nghĩa là "thầy chăn." Chữ "poimēn" được dùng trong Ê-phê-sô 4:11 cũng là chữ "poimēn" được dùng trong Lu-ca 2:8 và Giăng 10:11. Trong nguyên tác Hy-lạp, chữ "poimēn" là ποιμήν trong nguyên thể, là ποιμένας trong túc từ số nhiều trực tiếp cách; là ποιμενες trong số nhiều chủ thể cách. Theo Tự Điển Hy-lạp Anh Thayer’s Greek Definitions, chữ "poimēn" theo nghĩa đen là: "người chăn gia súc, đặc biệt là chăn chiên;" theo nghĩa bóng là "người quản nhiệm, người cai trị." Chúng ta hãy đối chiếu cách dịch chữ "poimēn" trong ba câu Thánh Kinh này qua bản dịch Phan Khôi và bản dịch King James để thấy sự sai lầm trong cách dịch của các bản Thánh Kinh Việt ngữ.
Lu-ca 2:8
Καὶ ποιμένες ἦσαν ἐν τῇ χώρᾳ τῇ αὐτῇ ἀγραυλοῦντες καὶ φυλάσσοντες φυλακὰς τῆς νυκτὸς ἐπὶ τὴν ποίμνην αὐτῶν.
Vả, cũng trong miền đó, có mấy kẻ chăn chiên trú ngoài đồng, thức đêm canh giữ bầy chiên. (Bản dịch Phan Khôi)
And there were in the same country shepherds abiding in the field, keeping watch over their flock by night. (Bản dịch King James)
Giăng 10:11
ἐγώ εἰμι ὁ ποιμὴν ὁ καλός. ὁ ποιμὴν ὁ καλὸς τὴν ψυχὴν
αὐτοῦ τίθησιν ὑπὲρ τῶν προβάτων·
Ta là người chăn hiền lành; người chăn hiền lành vì chiên mình phó sự sống mình. (Bản dịch Phan Khôi)
I am the good shepherd: the good shepherd giveth his life for the sheep. (Bản dịch King James)
Ê-phê-sô 4:11
καὶ αὐτὸς ἔδωκε τοὺς μὲν ἀποστόλους, τοὺς δὲ προφήτας, τοὺς δὲ εὐαγγελιστάς, τοὺς δὲ ποιμένας καὶ διδασκάλους,
Ấy chính Ngài đã cho người nầy làm sứ đồ, kẻ kia làm tiên tri, người khác làm thầy giảng Tin Lành, kẻ khác nữa làm mục sư và giáo sư. (Bản dịch Phan Khôi)
And he gave some, apostles; and some, prophets; and some, evangelists; and some, pastors and teachers. (Bản dịch King James)
Trong bản King James, chữ "poimēn" được dịch đúng nghĩa là: "shepherd" hoặc "pastor" vì cả hai chữ này đều có nghĩa là "người chăn." Trong bản dịch Phan Khôi, chữ "poimēn" được dịch đúng trong Lu-ca 2:8 và Giăng 10:11 thành "mấy kẻ chăn chiên" và "người chăn" nhưng đã dịch sai trong Ê-phê-sô 4:11 thành "mục sư" nghĩa là "thầy chăn."
Tại sao Đức Chúa Jesus tự xưng là "poimēn" thì được dịch thành: "Ta là người chăn!" mà Đức Thánh Linh phán rằng Chúa đã lập những "poimēn" trong Hội Thánh thì lại dịch là "mục sư," là "thầy chăn?" Dịch như vậy là sai, cần phải sửa lại cho đúng để tránh tội phạm thượng vì trong khi Đức Chúa Jesus xưng Ngài là "người chăn" mà các tôi tớ Chúa người Việt lại xưng mình là "thầy chăn." Không biết thì không có tội nhưng biết rồi mà không chịu sửa thì có tội và thêm tội. Có tội phạm thượng và thêm tội kiêu ngạo, cứng lòng, không hối cải.
Gợi ý cách dịch danh xưng các chức vụ trong Hội Thánh
Sau khi phổ biến bài góp ý này, Tim Huỳnh đã nhận được lời phê bình là trong bài viết lẫn lộn những dữ kiện (facts) trong Thánh Kinh với ý riêng hoặc sự giải luận riêng của mình có thể khiến cho người đọc lầm lẫn sự diễn giải của Tim Huỳnh (có thể không đúng) với các dữ kiện của Thánh Kinh (tuyệt đối không sai). Tim Huỳnh chân thành nhận lỗi và xin viết lại các gợi ý của mình như sau:
I. Apostle
Trong nguyên tác tiếng Hy-lạp là: apostolos, được Từ Điển "Thayer's Greek Definition" định nghĩa như sau:
1) a delegate, messenger, one sent forth with orders
1a) specifically applied to the twelve apostles of Christ
1b) in a broader sense applied to other eminent Christian teachers
1b1) of Barnabas
1b2) of Timothy and Silvanus
Tạm dịch:
1) một người đại diện, người truyền tin, người được sai đi với những mệnh lệnh
1a) đặc biệt áp dụng cho mười hai sứ đồ của Đấng Christ
1b) trong nghĩa rộng áp dụng cho các giáo viên Cơ đốc trụ cột
1b1) cho Ba-na-ba
1b2) cho Ti-mô-thê và Sin-vanh
Phan Khôi dịch Apostle sang Hán Việt thành Sứ Đồ. Sứ = Người được sai đi; Đồ = Học trò. Thiết tưởng sự dịch này tương đối chính xác cho nên chúng ta có thể giữ lại. Người Công Giáo dịch Apostle là Tông Đồ hoặc Ngôn Sứ. Tông = Chính gốc; Ngôn = Nói, lời nói.
Trong Công Vụ Các Sứ Đồ 14:1 đề cập Phao-lô và Ba-na-ba vào nhà hội tại thành Y-cô-ni để giảng đạo. Câu 4, câu 14 dùng danh từ sứ đồ số nhiều để gọi chung Phao-lô và Ba-na-ba. Hầu hết trong các thư tín của Phao-lô ông tự xưng ông là Sứ Đồ do Chúa gọi và trong Thư Ga-la-ti ông tích cực bênh vực cho chức vụ sứ đồ của ông.
Mặc dù theo bản dịch Phan Khôi thì Công Vụ Các Sứ Đồ 16:40 cũng gọi Si-la là sứ đồ nhưng Tim Huỳnh đã tra xét trong 23 bản dịch Anh Ngữ và 5 bản Tân Ước tiếng Greek vẫn không thấy có bản nào dùng chữ sứ đồ trong Công Vụ Các Sứ Đồ 16:40. Có lẽ Phan Khôi đã diễn ý câu này trong bản dịch Việt Ngữ.
Thánh Kinh chính thức gọi 15 người là sứ đồ: 12 sứ đồ do Đức Chúa Jesus chọn trước khi Hội Thánh được thành lập. Sứ Đồ Ma-thia được bầu thay thế cho Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, Sứ Đồ Phao-lô, và Sứ Đồ Ba-na-ba. Tim Huỳnh không biết ông Thayer dựa vào đâu để gọi Ti-mô-thê và Sin-vanh (tức Si-la) là sứ đồ. Có lẽ, bởi vì hai người này cũng có thẩm quyền thiết lập các trưởng lão trong Hội Thánh chăng? Mong nhận được góp ý của quý bạn đọc.
II. Evangelist
Trong nguyên tác tiếng Hy-lạp là: euaggelistēs, được Từ Điển "Thayer's Greek Definition" định nghĩa như sau:
1) a bringer of good tidings, an evangelist
2) the name given to the NT heralds of salvation through Christ who are not apostles
Tạm dịch:
1) người mang tin tức tốt lành, một người rao giảng Tin Lành
2) tên gọi những người trong Tân Ước rao giảng sự cứu rỗi trong Đấng Christ nhưng không phải là sứ đồ
Phan Khôi dịch Evangelist là Người Giảng Tin Lành (Công Vụ Các Sứ Đồ 21:8; II Ti-mô-thê 4:5). Thiết tưởng, dịch như vậy là đúng nghĩa. Chúng ta có thể giữ nguyên hoặc đổi thành Truyền Đạo Viên (Truyền Đạo = Rao giảng Đạo; Viên = Người chuyên tâm làm một công việc nào đó).
III. Bishop
Trong nguyên tác tiếng Hy-lạp là: episkopos, được Từ Điển "Thayer's Greek Definition" định nghĩa như sau:
1) an overseer
1a) a man charged with the duty of seeing that things to be done by others are done rightly, any curator, guardian or superintendent
1b) the superintendent, elder, or overseer of a Christian church
Tạm dịch:
1) một người giám thị
1a) một người được giao cho bổn phận giám thị để những công việc đã giao cho các người khác làm được thực hiện đúng cách; bất kỳ một người quản lý, người giám hộ, hoặc người quản đốc nào
1b) một người quản đốc, trưởng lão, hoặc giám thị của một Hội Thánh Cơ-đốc
Phan Khôi dịch Bishop sang Hán Việt là Giám Mục. Giám = Xem xét; Mục = Nuôi súc vật, theo ý thuộc linh là Mục Vụ: Công tác chăn bầy hoặc truyền đạo. Thiết tưởng, dịch như vậy là đúng nghĩa, không cần phải thay đổi.
IV. Elder
Trong nguyên tác tiếng Hy-lạp là: presbuteros, được Từ Điển "Thayer's Greek Definition" định nghĩa như sau:
1) elder, of age
1a) the elder of two people
1b) advanced in life, an elder, a senior
1b1) forefathers
2) a term of rank or office
2a) among the Jews
2a1) members of the great council or Sanhedrin (because in early times the rulers of the people, judges, etc., were selected from elderly men)
2a2) of those who in separate cities managed public affairs and administered justice
2b) among the Christians, those who presided over the assemblies (or churches) The NT uses the term bishop, elders, and presbyters interchangeably
2c) the twenty four members of the heavenly Sanhedrin or court seated on thrones around the throne of God
Tạm dịch:
1) lớn hơn, về tuổi tác
1a) người lớn hơn trong hai người
1b) tiến bộ trong đời sống (cao niên), một trưởng lão, một trưởng thượng
1b1) ông cha, tổ tiên
2) một danh xưng về cấp bậc hoặc chức vụ
2a) giữa vòng những người Do-thái
2a1) các thành viên của đại hội đồng Sanhedrin (Tòa Công Luận) (bởi vì thuở trước những nhà cai trị dân chúng, quan tòa, v.v., đều được tuyển chọn từ những người lớn tuổi)
2a2) dùng cho những người trong các thành phố khác nhau quản lý công sự và thi hành công lý
2b) giữa vòng các Cơ-đốc nhân, là những người chủ tịch các hội chúng (hoặc các Hội Thánh). Tân Ước dùng danh từ giám mục, trưởng lão một cách thay thế lẫn nhau
2c) Hai mươi bốn thành viên của hội đồng Sanhedrin hoặc cung triều trên trời ngồi trên các ngôi chung quanh ngôi Đức Chúa Trời.
Phan Khôi dịch Elder sang Hán Việt là Trưởng Lão. Trưởng = đứng đầu; Lão = lớn tuổi (ở đây được hiểu là về mặt thuộc linh = có kinh nghiệm thuộc linh). Thiết tưởng, dịch như vậy là đúng nghĩa, không cần phải thay đổi.
V. Pastor/Shepherd
Trong nguyên tác tiếng Hy-lạp là: poimēn, được Từ Điển "Thayer's Greek Definition" định nghĩa như sau:
1) a herdsman, especially a shepherd
1a) in the parable, he to whose care and control others have committed themselves, and whose precepts they follow
2) metaphorically
2a) the presiding officer, manager, director, of any assembly: so of Christ the Head of the church
2a1) of the overseers of the Christian assemblies
2a2) of kings and princes
Tạm dịch:
1) người chăm sóc thú vật, đặc biệt là người chăn chiên
1a) trong ngụ ngôn, là người mà sự chăm sóc và kiểm soát của người ấy khiến cho những người khác đầu phục, và tuân theo các lời giảng dạy
2) nghĩa ẩn dụ
2a) người chủ tịch, quản lý, giám đốc của bất kỳ một hội chúng: dùng cho Đấng Christ, Ngài là Đầu của Hội Thánh
2a1) dùng cho những người giám thị những Hội Chúng Cơ Đốc
2a2) dùng cho các vua, các vương tử
Phan Khôi dịch Pastor sang Hán Việt là Mục Sư. Mục = Mục vụ: Công tác chăn bầy hoặc truyền đạo; Sư = thầy. Trong tiếng Việt không có chữ nào tương đương với chữ "sư" của Hán Việt. Chữ "thầy" trong tiếng Việt chỉ tương đương với chữ "giáo" trong Hán Việt. Thầy là người hướng dẫn chúng ta những điều chúng ta cần biết hoặc muốn biết trong cuộc sống, một người truyền đạt tri thức, kỹ năng cho chúng ta. Trong khi đó, "sư" là người mà chúng ta phải phục tùng tất cả những ý chỉ của người ấy, bất kể chúng ta có tán thành hay không. Trong cái thứ tự lễ nghĩa của Nho Giáo, "sư" đứng trước cha, có quyền hơn cha. Một người theo Nho Giáo phải đặt vua lên trên hết, kế tiếp tới "sư," rồi mới đến cha: "Quân Sư Phụ." Ý nghĩa độc đáo của chữ "sư" trong Hán Việt không cho phép chúng ta dịch Pastor/Shepherd thành "Mục Sư," vì như vậy sẽ vi phạm lệnh cấm của Đức Chúa Jesus trong Ma-thi-ơ 23:8 "Nhưng các ngươi đừng chịu người ta gọi mình bằng thầy; vì các ngươi chỉ có một Thầy, và các ngươi hết thảy đều là anh em. - But be not ye called Rabbi: for one is your Master, even Christ; and all ye are brethren."
Thiết tưởng, chúng ta nên dịch Pastor/Shepherd thành "Người Chăn" trong tiếng Việt hoặc "Mục Tử" trong Hán Việt, hoặc tốt hơn, dịch là "Mục Đồ" với ý nghĩa "học trò của Chúa làm nhiệm vụ chăm sóc bầy chiên của Chúa." Mục Đồ mới nghe thì lạ tai nhưng nghe nhiều lần sẽ quen tai như: tín đồ, môn đồ, sứ đồ, thánh đồ... Người Công Giáo dịch Pastor/Shepherd sang Hán Việt thành Linh Mục, rất đúng nghĩa.
VI. Deacon
Trong nguyên tác tiếng Hy-lạp là: diakoneō, được Từ Điển "Thayer's Greek Definition" định nghĩa như sau:
1) to be a servant, attendant, domestic, to serve, wait upon
1a) to minister to one, render ministering offices to
1a1) to be served, ministered unto
1b) to wait at a table and offer food and drink to the guests
1b1) of women preparing food
1c) to minister, i.e. supply food and necessities of life
1c1) to relieve one’s necessities (e.g. by collecting alms), to provide take care of, distribute, the things necessary to sustain life
1c2) to take care of the poor and the sick, who administer the office of a deacon
1c3) in Christian churches to serve as deacons
1d) to minister
1d1) to attend to anything, that may serve another’s interests
1d2) to minister a thing to one, to serve one or by supplying any thing
Tạm dịch:
1) làm một đầy tớ, người hầu, người giúp việc nhà, người phục vụ, tùy phái
1a) chăm sóc một người nào, giao phó chức vụ chăm sóc
1a1) được phục vụ, được chăm sóc cho
1b) chờ đợi bên bàn và trao thức ăn, thức uống cho khách
1b1) gọi những người phụ nữ nấu ăn
1c) chăm sóc, như: cung cấp thực phẩm và các nhu yếu của đời sống
1c1) giải quyết nhu cầu của ai đó (như bởi sự quyên góp), cung cấp sự chăm sóc, phân phối những điều nhu yếu để bảo tồn sự sống
1c2) chăm sóc những người nghèo và đau yếu, người đảm nhận chức vụ chấp sự
1c3) trong Hội Thánh Cơ-đốc, phục vụ trong vai trò chấp sự
1d) chăm sóc
1d1) làm bất cứ việc gì để giúp đỡ cho phúc lợi của người khác
1d2) chu cấp một điều gì đó cho ai, để phục vụ người đó hoặc bởi chu cấp bất kỳ điều gì
Phan Khôi dịch Deacon sang Hán Việt là = Chấp Sự. Chấp = làm theo; Sự = Công việc. Thiết tưởng chúng ta có thể giữ nguyên danh từ Chấp Sự vì dịch như thế cũng khá xác nghĩa và khó mà tìm được danh từ nào thích hợp hơn. Trong Hội Thánh ban đầu cũng có Nữ Chấp Sự (Rô-ma 16:1).
VII. Minister
Trong nguyên tác tiếng Hy-lạp là: diakonos, được Từ Điển "Thayer's Greek Definition" định nghĩa như sau:
1) one who executes the commands of another, especially of a master, a servant, attendant, minister
1a) the servant of a king
1b) a deacon, one who, by virtue of the office assigned to him by the church, cares for the poor and has charge of and distributes the money collected for their use
1c) a waiter, one who serves food and drink
Tạm dịch:
1) người thi hành mệnh lệnh của người khác, đặc biệt là của chủ, một người đầy tớ, người hầu, người phục vụ
1) đầy tớ của một vì vua
1b) một chấp sự, là người bởi chức vụ do Hội Thánh giao phó, chăm sóc cho người nghèo và được giao cho nhiệm vụ phân phát tiền quyên góp để người nghèo chi dụng
1c) một tiếp viên, lo phục vụ thức ăn và thức uống
Phan Khôi dịch Minister là = Người Hầu Việc/Người Giúp Việc. Đề nghị chúng ta dịch là Mục Vụ Viên. Mục vụ = công tác chăn bầy hoặc truyền đạo; Viên = Ngưòi chuyên tâm làm một công việc nào đó.
VIII. Preacher
Trong nguyên tác tiếng Hy-lạp là: kērux, được Từ Điển "Thayer's Greek Definition" định nghĩa như sau:
1) a herald or messenger vested with public authority, who conveyed the official messages of kings, magistrates, princes, military commanders, or who gave a public summons or demand, and performed various other duties. In the NT God’s ambassador, and the herald or proclaimer of the divine word.
Tạm dịch:
1) một người loan tin hoặc một người truyền tin có công quyền để chuyển đạt thông điệp của các vua, các quan tòa, các vương tử, các tướng lãnh, hoặc người trao trát tòa hay lệnh tòa và thực hiện các công vụ khác nữa. Trong Tân Ước là những đại sứ của Đức Chúa Trời và là người loan báo hay người công bố lời Thánh.
Phan Khôi dịch Preacher là = Thầy Giảng. Đề nghị chúng ta dịch là Giảng Viên. Giảng = Trình bày rõ ràng một điều gì; Viên = Ngưòi chuyên tâm làm một công việc nào đó. Giảng Viên là người chuyên tâm rao giảng lời Chúa, như vậy tránh được sự hiểu lầm về chữ "thầy."
IX. Missionary
Trong Thánh Kinh không có danh từ Missionary. Hội Thánh Việt Nam dịch Missionary sang Hán Việt thành Giáo Sĩ. Giáo = Dạy cho hiểu biết; Sĩ = Người có học. Trong thực tế, danh xưng này được dùng để gọi những người có các kiến thức chuyên môn về văn hóa, xã hội, khoa học... dành toàn thời gian đi đến các dân tộc chưa biết Chúa để vừa rao giảng Tin Lành vừa làm các công tác giáo hóa và xã hội như mở mang và làm việc trong các truờng học, bệnh viện, cô nhi viện, dưỡng lão viện, cơ sở huấn nghệ... nhằm phục vụ các nhu cầu xã hội và nâng cao tri thức, văn hóa của các đối tượng được truyền giáo.
X. Reverend
Thánh Kinh chỉ dùng danh xưng này cho Đức Chúa Trời một lần trong Thi Thiên 111:9. Trong nguyên tác tiếng Hê-bơ-rơ là yârê'. Từ điển "Strong's Hebrew Dicyionary" định nghĩa như sau:
A primitive root; to fear; morally to revere; causatively to frighten: - affright, be (make) afraid, dread (-ful), (put in) fear (-ful, -fully, -ing), (be had in) reverence (-end), X see, terrible (act, -ness, thing).
Tạm dịch:
Một từ gốc nguyên thỉ; sợ, kính sợ trong tinh thần đạo đức, khiến cho hoảng sợ: kinh sợ, bị (làm cho) sợ hãi, (một cách) kinh khủng, (khiến cho) lo sợ, (ở trong) sự tôn kính, chiêm ngưỡng, kinh khiếp (hành vi, sự việc, sự)
Phan Khôi dịch Thi Thiên 111:9 như sau: "Ngài đã sai cứu chuộc dân Ngài, Truyền lập giao ước Ngài đến đời đời. Danh Ngài là thánh, đáng kính sợ." bản dịch King James dịch: "He sent redemption unto his people: he hath commanded his covenant for ever: holy and reverend is his name."
Người Công Giáo mở đầu cho sự lấy "Reverend" làm danh xưng cho các chức sắc trong Giáo Hội Công Giáo. Sau đó, các Giáo Hội Chính Thống, Anh Giáo, và Lutheran cũng bắt chước theo. Theo thời gian, thói quen này thâm nhập vào trong hầu hết các giáo phái Tin Lành. Với tinh thần hạ mình khiêm nhường, xem người khác là tôn trọng hơn chính mình Chúa dạy cho con dân và tôi tớ Chúa, chúng ta không nên mang danh xưng này.
Huỳnh Christian Timothy
Viết lần đầu: 12/12/2007
Viết lại, có sửa chữa và cập nhật: 19/12/2007
Ghi chú: Trong một dịp khác chúng ta sẽ cùng nhau đi sâu về chi tiết và bàn về sự tồn tại của các chức vụ và ân tứ trong Hội Thánh.
Xin xem thêm phần thảo luận về danh xưng "mục sư" tại đây: http://tinlanhbiengiao.net/?q=node/223
DANH XUNG VA CHUC DICH
Truoc het toi xin cam ta Chua, vi Ngai co cho toi co hoi cung voi anh em thong cong voi nhau tren tinh than hoc hoi va tim kiem Le That trong Kinh Thanh,hau cho moi nguoi trong chung ta deu duoc lon len trong Loi cua Chua
Theo nhu truyen thong trong cac HT Tin Lanh va cac he phai khac noi chung,ho thuong lay CHUC DICH de thay the DANH XUNG. Dieu nay hoan toan trai voi le that.
Khi dan DoThai song o thoi ky Luat Phap,cac thay te le,thong giao,cac thay day luat v..v...deu chap nhan de cho dan su goi minh la Cha ,la Thay,la Chua boi vi ho dang song trong thoi Phap Quyen.Nhung dan su cua Chua thoi AN DIEN thi khong xung tung nhu vay,boi vi ho chi duy co 1 NGUOI de ho goi la Chua la Cha la Thay ,do chinh la Gie-xu,Cuu Chua cua chung ta,het thay chung ta con lai ,deu la anh em.(con nhung ai muon Ton Xung de tim vinh hien lan nhau thi do la chuyen giua ho voi Chua)
Nhu chung ta deu biet ,cac chuc dich trong HT deu do chinh Chua lap ra va chinh Ngai lam dau HT.Muc dich cac chuc dich thanh nay la de phuc vu va lam tang truong HT,chu khong phai de lam danh xung
Nhu vay,chung ta hay nho ky dieu nay: CHUC DICH KHONG PHAI LA DANH XUNG. vI le ay ,chung ta khong nen lay chuc dich de thay the danh xung vi no de dua chung ta den cho kieu ngao,tu cao.
La con cai cua su sang,chung ta hay mac lay su khiem nhuong, nhu mi va trung tin trong su giang day,khong pha lon dao,nhung can phai vua giup Le That. Nhu vay chung ta moi xung dang la day to trung thanh cua Dang Chríst. Amen